THANH CAN ĐỞM BẢO VỆ GAN CỦA BẠN

I. CHỨC NĂNG CỦA TẠNG CAN (GAN)
Tạng can là một trong năm tạng của con người và có chức năng: Chủ về tàng huyết, chủ về sơ tiết, chủ cân, khai khiếu ra mắt, vinh nhuận ra móng tay, móng chân.
1. Chủ về tàng huyết
Tàng huyết là tàng trữ về điều tiết lượng máu trong cơ thể. Lúc nghỉ ngơi, lúc ngủ nhu cầu về huyết dịch ít, máu được tàng trữ ở can; trái lại lúc hoạt động, lao động nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể đòi hỏi cao hơn, can lại bài xuất khối lượng máu dự trữ để cung cấp kịp thời.
Chức năng tàng huyết của can bị rối loạn sẽ ảnh hưởng đến các tạng phủ và sinh các triệu chứng bệnh: như can huyết không đầy đủ thấy hoa mắt, chóng mặt, chân tay co quắp, kinh nguyệt ít có thể bế kinh…Can khí bị xúc động, huyết đi lạc đường, có thể thấy các hiện tượng xuất huyết như nôn ra máu, chảy máu cam, băng huyết, rong huyết…
2. Chủ về sơ tiết:
– Là sự thư thái, thông thường còn gọi là “điều đạt”. Can khí chủ về sơ tiết giúp cho sự vận hành của khí các tạng phủ được dễ dàng, thông suốt, thăng giáng được điều hoà. Can khí sơ tiết kém sẽ có những biểu hiện bệnh lý đặc biệt ở tình chí và sự tiêu hoá.
– Về tình chí, ngoài tạng tâm đã nêu ở trên, còn do tạng can phụ trách. Can khí bình thường, thì khí huyết vận hành điề hoà, tinh thần thoải mái.Trái lại can huyết sơ tiết kém sẽ gây tình trạng khí bị uất kết hay hưng phấn quá độ. Can khí uất kết biểu hiện: ngực sườn đầy tức, u uất, hay thở dài, kinh nguyệt không đều, thống kinh…Can khí xung thịnh gây cáu gắt, hoa mắt, chóng mặt, ù tai…
– Về tiêu hoá: sự sơ tiết của can có ảnh hưởng lớn đến sự thăng giáng của tỳ vị. Nếu can khí uất kết hay can khí hoành nghịch có thể thấy các triệu chứng đau cạnh sườn, đau thượng vị, ăn kém, ợ hơi, ợ chua, ỉa chảy gọi là chứng “can tỳ bất hoà” hay “can vị bất hoà”…
3. Chủ cân, vinh nhuận ra móng tay, móng chân
Cân là cân mạch gồm các khớp, gân, cơ, phụ trách việc vận động của cơ thể. Nói can chủ cân tức là can nuôi dưỡng các cân bằng huyết của can (can huyết: can huyết đầy đủ, cân mạch được nuôi dưỡng tốt, vận động tốt, trái lại can huyết hư sẽ gây các chứng tê bại, chân tay run, co quắp, teo cơ, cứng khớp…Nếu sốt cao, huyết dịch hao tổn không dưỡng cân gây co giật, tay chân co quắp.
Móng tay móng chân là chỗ thừa của cân mạch, nên tình trạng thiếu đủ của can huyết sẽ có những biểu hiện hồng nhuận cứng cáp hay nhợt tái thay đổi hình dạng (móng tay uốn khum)
4. Khai khiếu ra mắt
Tinh khí của ngũ tạng thông qua huyết dịch đều đi lên mắt, nhưng chủ yếu là do tạng can vì can tàng huyết và kinh can đi lên mắt
Can khí thực do phong nhiệt gây chứng mắt đỏ, sưng, đau; can huyết hư gây quáng gà, giảm thị lực. Can phong nội động gây miệng méo, mắt lác..
5. Ngoài ra can mộc còn: Sinh tâm hoả, khắc tỳ thổ và có quan hệ biểu lý với đởm
II Chức năng khác của tạng Can
Ngoài những chức năng nêu ở phần I Tang can còn có các chứn năng khác như:
1. Can chủ mưu lự:
Bệnh can thì thường lo xa, nghĩ linh tinh và hay nghĩ,…
2. Can là gốc của sự bại cực: Bệnh của can thị mệt sức không chịu được khó nhịn
3. Can tàng hồn: Hồn không tàng thì thường dẫn tới mất ngủ, hay mệt, dễ sợ hãi,…
4. Trong can có chứa tướng hỏa: Hỏa nghịch lên thì đau đầu, chóng mặt, mặt bừng đỏ, mắt đỏ, miệng khô đắng,…
5. Can thông với phong khí:
Tức là can dương càng lên. Nhiệt nhiều huyết hư thì có thể sinh phong, biểu hiện các triệu chứng như chóng mặt, tê bì tay chân, lưỡi run, co giật,.
III. Mối quan hệ giữa tạng can với các tạng phủ khác:
Can biểu lý với đởm, tương sinh với thận, và tương khắc với tỳ phế. Khi tạng can có mắc bệnh có thể xuất hiện như sau:
1. Biểu lý với đởm:
Theo ngũ hành đởm được coi về tướng hỏa do đó hỏa nghịch thì đau đầu, chóng mặt, mắt đỏ, miệng đắng, khô họng và hoàng đản, mộng tinh.
– Hỏa suy thì nôn mửa, nuốt chua và lợm giọng.
– Đởm chủ việc quyết đoán ví dụ như khí hư thì đởm khiếp, hay hoảng sợ, nằm không yên. Đởm chủ về bán lý và bán biểu như khi nóng hoặc rét qua lại. Theo đường tuần hành của kinh đởm, nếu như tạng can có bệnh thì hai tai sẽ nóng hoặc thậm chí bị điếc đột ngột, đau một bên đầu hoặc mạng sườn.
2. Tương sinh với tâm thận:
Can mộc không sinh tâm hỏa tức là khi can khí nhiễm tâm hay can khí xung tâm, hoặc có thể xuất hiện những triệu chứng ngực nhiều khí đoản, tâm thống, nhiệt quyết. Can khí hư sau khi xuất hiện tâm hư. Thận thủy không sinh can mộc nghĩa là trước khi có chứng thận âm hư rồi mới xuất hiện chứng can âm hư.
3. Tương khắc với tỳ phế:
– Tạng can mộc khắc với tỳ thổ tức là khi can khí thịnh vượng thì sẽ khắc chế tạng tỳ vị thái quá, mà từ đó xuất hiện các triệu chứng của tỳ vị.
– Can khí hư thì mộc không sợ thổ, nhưng cũng sẽ xuất hiện triệu chứng của tỳ vị, thường chán ăn và bụng chướng.
– Phế kim khắc can mộc tức là: Trước khi thấy bệnh của phế, sau khi thấy chứng trạng của can. Khi can hỏa vượng cũng có thể ảnh hưởng tới phế, tức là mộc hỏa hình kim, mộc gõ kim kêu. Xuất hiện chứng ho khan ít đờm thậm chí khạc ra máu.
IV. Bệnh của tạng can theo y học cổ truyền
1 Triệu chứng bệnh của can
– Thực chứng: Đau ngay cạnh mạn sườn lan tới bụng dưới, nôn ra nước chua, mạch huyền.
– Hư chứng: Đau đầu, chóng mặt, mắt quáng gà và khô, móng khô, cân mạch co, sắc mặt vàng ải, mạch tế, rụng tóc.
– Nhiệt chứng: Gây ra chứng khát nước, miệng đắng, mắt sưng đau, đau cạnh sườn, đái máu, đau sinh dục ngoài, co giật, run, mạch huyền sác.
– Hàn chứng: Nôn đờm dãi, đau bụng dưới, mạch trầm huyền.
2 Triệu chứng bệnh của đởm
– Thực chứng: Thường hay cáu gắt, ngực đầy, dưới sườn đau tức, hoàng đản, ngủ nhiều, người mệt mỏi.
– Hư chứng: Buồn phiền mất ngủ, chóng mặt, hay thở dài và giật mình.
Nhiệt chứng: Điển hình đó là miệng đắng, ù điếc tai, đau cạnh sườn, hàn nhiệt vãng lai.
– Hàn chứng: Nôn, chóng mặt, không ngủ được, nóng tính, hay cáu gắt vo cớ.
V. Thanh Can Đởm với Tạng can (gan)
THANH CAN ĐỞM
Dùng cho: Người chức năng gan kém, viêm gan, xơ gan, gan nhiễm mỡ.
– Bộ Y tế đã cấp: Giấy tiếp nhận bản công bố sản phẩm số: 9034/2019/ĐKSP
– Bộ Y tế đã cấp: Giấy xác nhận nội dung quảng cáo số: 00151/2020/XNQC-ATTP
– Sản phẩm được sản xuất tại: Công ty TNHH Sản xuất DP công nghệ cao nanofrance đạt chuẩn GMP

1. Thành phần của Thanh Can Đởm:
Cao khô Nhân trần: 110mg (tương đương 1100mg dược liệu);
Cao khô Ưng bất bạc: 70mg (tương đương 700mg dược liệu);
Cao khô Bồ công anh: 50mg (tương đương 500mg dược liệu);
Cao khô Hoàng cầm râu: 50mg (tương đương 500mg dược liệu);
Cao khô Dành dành: 35mg (tương đương 350mg dược liệu);
Cao khô Bông mã đề: 35mg (tương đương 350mg dược liệu).
   – Phụ liệu: Chất chống đông vón (magnesium stearate, talc), chất bảo quản (natri benzoate,
sorbat kali), chất làm bóng( polyvinylpyrrolidone), chất nhũ hóa(PEG), màu thực phẩm (brown
HT), chất tạo gel (HPMC), chất làm dày (tinh bột, lactose) vừa đủ 1 viên.
2. Công dụng: Thanh nhiệt giải độc gan, tăng cường chức năng gan, hỗ trợ giảm các triệu chứng viêm gan,, gan nhiễm mỡ, chán ăn, vàng da, men gan tăng cao
3. Đối tượng sử dụng: Người chức năng gan kém, viêm gan, xơ gan, gan nhiễm mỡ.
4. Liều lượng: Người lớn mối ngày uống 4 viến chia làm 2 lần sau ăn, trẻ em từ 8 tuổi mỗi ngày uống 2 viên chia làm 2 lần sau ăn
5. Chú ý:
– Thực phẩm này không phải là thuốc, và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh
– Sản phẩm không dùng cho phụ nữ mang thai và đang cho con bú, người tỳ hư, tiểu đường
– Không sử dụng cho người có mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của sản phẩm

.
.