
1. Tên khác: Cúc gai, Nhũ kế
2. Tên khoa học: Silybum marianum (L.) Gaertn.
3. Họ: Cúc (Asteraceae)
4. Xuất xứ:
– Cây kế sữa mọc hoang ở vùng Nam nước Pháp và gần như hoang dại ở phần Nam và Trung châu Âu, Bắc Phi châu, Trung và Đông Á châu đến Bắc và Nam Mỹ.
– Cây kế sữa rất hiếm thấy ở Việt Nam và không được đề cập trong sách “Cây cỏ Việt Nam”.
5. Mô tả:
Là cây thân thảo, có thân thẳng và phân nhánh, có rễ trụ, to, dài. có chiều cao khoảng 150cm. Lá xanh, ôm thân màu xanh bóng loáng, thường có nhiều đốm trắng dọc theo các gân, mép có răng dạng gai mà gai lại có màu vàng và rất nhọn; các lá phía trên và ở giữa ôm lấy thân; các lá ở dưới rất to, có phiến chia thuỳ và có cuống. Lá bắc ngoài và giữa có một phần phụ hình tam giác màu lục thu lại thành một gai to, ở gốc có 4-6 gai nhỏ ngắn hơn ở mỗi bên.
Cụm hoa đầu đơn độc rộng 3-8cm. Hoa màu tím hồng (tía) hơi giống nhau đều có 5 cánh hoa, 5 nhị và bầu một ô với 2 lá noãn và 2 vòi nhuỵ phình ở gốc.
6. Bộ phận dụng: Toàn cây và quả

7. Tính vị,
Vị đắng, tính hàn;
8. Tác dụng: Toàn cây có tác dụng hạ nhiệt, cầm máu, trừ lỵ; quả làm tăng áp huyết, làm giảm các cơn đau suyễn và ho, đau gan.
9. Thành phần hóa học:
Trong vòng hơn 50 năm qua, các nhà khoa học đã thành công trong việc xác định các hoạt chất có trong cây kế sữa. Quả chứa glucid mà thành phần là glucose và pentose; có các vết của một tanin catechic, một chất màu, một chất đắng, một chất cay. Có tinh dầu, các chất histamin và tyramin; còn có một phytomelan.
10. NHỮNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ CÂY KẾ SỮA
a) Kinh nghiệm dân gian:
Ở các vùng như Địa Trung Hải, Nam Âu, Trung Đông, Bắc Phi. Từ xa xưa, Kế sữa đã được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống hàng ngày, đặc biệt là để chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe.
– Từ 2000 năm trước:
Người Hy Lạp cổ đại thường dùng Kế sữa để chữa trị các bệnh về gan, mật và để bảo vệ gan khỏi các chất độc. Họ dùng hầu hết các bộ phận của cây như lá, hạt, quả để làm cồn thuốc chữa bệnh và thuốc bổ.
b) Theo các tài liệu ghi chép lại:
Kế sữa được dùng điều trị các bệnh vàng da, viêm nhiễm (như viêm da, viêm phổi), hen suyễn, bệnh dại và một số bệnh về lá lách. Nicholas Culpeper, một dược sĩ nổi tiếng thế kỷ 17 ở châu Âu đã ghi chép lại việc sử dụng Kế sữa rất phổ biến ở đây, cho các trường hợp nhiễm độc gan, lá lách, bệnh vàng da, bệnh gan mật.
– Ngoài ra, các thầy thuốc còn dùng Kế sữa cho phụ nữ sau khi sinh với tác dụng kích thích bài tiết sữa mẹ.
– Đặc biệt, Kế sữa có tác dụng giải độc cho gan rất mạnh và nhanh chóng.
c) Những nghiên cứu mới:
– Vào cuối thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ thứ 20, các bác sĩ ở Hoa Kỳ đã dùng hạt của milk thistle để làm giảm chứng sung máu trong gan, tỳ tạng (spleen) và thận. Nhiều chuyên gia dược thảo tin rằng chiết xuất (extract) của milk thistle có thể phòng ngừa hoặc chữa trị sự rối loạn chức năng của gan kể cả gan bị nhiễm trùng, gan có mỡ do uống rượu lâu ngày, gan bị hư hại do dùng thuốc và chất độc công nghiệp như carbon tetrachloride.
– Hiện nay, nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy một trong những hợp chất của milk thistle (silymarin) có công hiệu mạnh để bảo vệ gan chống lại sự hủy hoại gây ra bởi vi khuẩn, độc tố, rượu và một vài loại thuốc chữa bệnh đau nhức thông thường (như là thuốc acetaminophen, cũng gọi là Paracetamol, Panadol, Panamax, Panadein…). Chất này gồm một nhóm hỗn hợp gọi là flavonolignands giúp gan sửa chữa lại các tế bào bị hư hoại vì rượu và các độc tố khác. Silymarin cũng giúp tế bào gan tránh khỏi bị tiêu diệt bởi bệnh viêm gan và chất antioxidant trong milk thistle có công hiệu chữa bệnh rất mạnh mẽ.
– Theo một báo cáo của ABC (Ủy ban quốc gia Mỹ về thực vật học) cho biết vào tháng 1 năm 2007, bệnh viện Dominican (ở Santa Cruz, California) đã thành công trong điều trị cho trường hợp một gia đình 6 thành viên phải nhập viện do ngộ độc nấm Amanita Phalloides. Sau khi nhập viện, các bệnh nhân này đã được bác sĩ bệnh viện chẩn đoán bị ngộ độc nấm Amanita Phalloides (do ăn món bánh thịt chiên được làm với nấm dại), hậu quả sẽ làm huỷ hoại và suy kiệt chức năng gan chỉ trong vài ngày, dẫn đến tử vong nhanh chóng.
– Bác sĩ Todd Mitchell ở bệnh viện Dominican đã tiến hành thu thập các tài liệu về cách giải độc loại nấm Amanita Phalloides và ông đã tìm được thông tin về một loại thuốc tiêm truyền với hoạt chất chiết xuất từ cây Kế sữa có khả năng giải độc trong trường hợp này. Tuy nhiên, đây là sản phẩm của hãng dược phẩm Madaus, Bỉ sản xuất và lúc đó vẫn chưa lưu hành ở Mỹ do chưa được FDA (Cục quản lý dược phẩm và thực phẩm của Mỹ) cấp số đăng ký. Do vậy, các bác sĩ bệnh viện Dominican phải rất vất vả liên hệ với đại diện của hãng Madaus ở Đức để có thể xin viện trợ thuốc khẩn cấp và đã nhận được sự đồng ý. Tuy vậy vẫn cần có thời gian để thuốc được chuyển đến, và trong thời gian này, các bác sĩ phải đối mặt với tình trạng hết sức nguy kịch của các bệnh nhân. Không thể để tình trạng xấu đi, họ quyết định sử dụng dược phẩm có hoạt chất tương tự chiết xuất từ Kế sữa nhưng bằng đường uống cho các bệnh nhân này. Và rất may mắn là không lâu sau đó, thuốc của Madaus đã đến được bệnh viện Dominican. Thật kỳ diệu, 5 trong số 6 bệnh nhân đã hồi phục và được xuất viện, chỉ có duy nhất một bệnh nhân lớn tuổi nhất, 83 tuổi không qua khỏi do bị suy thận và tuổi quá cao. Nhưng ở bệnh nhân này cũng cho thấy các dấu hiệu hồi phục ở gan khi được điều trị bằng dược phẩm có nguồn gốc từ Kế sữa. Kết quả này một lần nữa chứng minh tác dụng tuyệt vời của Kế sữa đối với gan, một cơ quan quan trọng của cơ thể con người.
– Trong một thí nghiệm của Tiến sỹ G.Vogel, tại Đức với 60 trường hợp bệnh nhân bị ngộ độc nấm. Dù cho tỷ lệ tử vong trong trường hợp này lên đến 30 – 40%, nhưng tất cả các trường hợp bệnh nhân được uống nước chiết của cây milk thistle đều sống sót.
– Một nghiên cứu khác trên 2000 bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan cho sử dụng nước cây milk thistle, tình trạng của gan đều được cải thiện rõ rệt.
– Theo nghiên cứu của Kostek H và cs thì Silibinin là thành phần chứa trong cây kế sữa (Sylibum marianum). Cơ chế hoạt động của nó rất phức tạp và rất có lợi trong việc bảo vệ tế bào gan. Một mặt hợp chất này ngăn chặn sự xâm nhập của các độc tố khác nhau (ví dụ amanitin) vào các tế bào gan không cho phép theo cách này để làm chết tế bào và mặt khác, nó ngăn cản quá trình apoptosis qua nội bào. Nó bảo vệ gan khỏi oxy hóa của các gốc tự do trong tế bào bằng cách tăng cường các hoạt động của enzyme superoxide dismutase và peroxidase, cũng như bằng cách tăng nồng độ glutathione và các hoạt động của peroxidase. Silibinin củng cố và ổn định màng tế bào, ức chế sự tổng hợp prostaglandin có liên quan với sự peroxy hóa lipid và thúc đẩy sự tái sinh của gan thông qua việc kích thích sự tổng hợp protein và ảnh hưởng đến việc sản xuất các tế bào gan mới
d) Giải độc gan:
– Các silymarin (80%) đặc biệt là Silybin (30%), silychristin và silydianin của Silybum marianum (Milk Thistle) tham gia giải độc và tác động lên các lớp chất béo lắng đọng bởi đặc tính bảo vệ và chữa tổn thương gan bằng cách ổn định màng tế bào của gan và kích thích sự tổng hợp các protein gan dẫn đến việc sản xuất các tế bào gan mới, tái tạo các mô gan. Tạo điều kiện cho nhũ hóa chất béo và tiêu hủy TG và cholesterol. Giảm hoại tử tế bào gan, và giảm sự hình thành mô xơ cũng như mức transaminase huyết thanh. Rất hiệu quả trong điều trị viêm ống mật. Tác dụng bảo vệ gan khỏi các chất độc khác nhau (rượu, paracetamol …), giảm mức SGOT, SGPT và bilirubin. Ủy ban EU và WHO công nhận việc sử dụng nó trong “điều trị các rối loạn tiêu hóa, một tập hợp các triệu chứng tiêu hóa nhiều hoặc ít liên quan trực tiếp đến các rối loạn không chức năng của hệ thống gan mật, và trong trường hợp ngộ độc gan (viêm gan và xơ gan).
– Nhiều nghiên cứu khác cũng đã chứng minh Silymarin có tác dụng làm giảm 2 loại men gan: Alanine Aminotransferase (ALT) và Aspartate Aminotransferase (AST) trong bệnh gan. Từ đó, dược liệu có hiệu quả trong điều trị bệnh men gan cao. Các chuyên gia cũng cho biết, Kế sữa có tác dụng bảo vệ và phục hồi chức năng gan. Đặc biệt, ở những người có nguy cơ cao như: Uống nhiều rượu bia, ngộ độc hóa chất, sử dụng thuốc gây hại tế bào gan… Đồng thời, cải thiện tình trạng rối loạn chức năng gan như: Mệt mỏi, vàng da, chán ăn, khó tiêu…
