CÂY CÓC MẲN (NGA BẤT THỰC THẢO)
1. Tên khác: Cỏ the, cúc mẳn, cúc ma, cây thuốc mộng, cây trăm chân, cóc ngồi (miền Nam); thạch hồ tuy, địa hồ tiêu, cầu tử thảo, nga bất thực thảo… .
2. Tên khoa học: Centipeda minima (L.) A. Br. et Aschers.
3. Thuộc họ Cúc – Asteraceae.

Hình ảnh cấy cóc mẳn
4. Mô tả:
a) Là loại cỏ nhỏ mềm, mọc bò lan trên đất ẩm, phân nhiều cành, ngọn có lông mịn trắng. Lá đơn mọc so le, hình 3 cạnh, đầu tù, phía cuống cong hẹp lá, mép có răng cưa, dài 10 – 18mm, rộng 6 – 10mm, gân chính hơi nổi, không có cuống. Cụm hoa hình đầu mọc nách lá, hoa cái nhiều lớp, cánh hoa hình ống có răng cưa, hoa lưỡng tính ít hơn. Tràng hoa hình cuống có 4 răng hình trứng màu hơi tím. Quả bể 4 cạnh, trên cạnh có lông mịn.
b) Phân bố: Thường mọc ở những nơi với môi trường ẩm thấp, thường được trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng, trung du và vùng đất thấp.
5. Bộ phận dùng
Toàn cây đã rửa sạch phơi hoặc sấy khô của cây Cóc mẳn (Herba Centipedae Minimae).
6. Thành phần hóa học
Cây Cóc mẳn có chứa thành phần hóa học là tinh dầu, acid myriogynic, taraxasterol, arnidiol,… .
7. Công dụng
Chữa ho gà, viêm khí phế quản mạn tính, ho gió; chữa cảm mạo, sốt, tắc nghẹt mũi. Chấn thương, lở loét, dùng uống trong hoặc giã nát đắp lên vết thương.
8. Tính vị
Theo Đông y: Cây Cóc mẳn có vị cay, mùi hắc, tính ấm có tác dụng thông khiếu, tán thấp, khu phong, tiêu thũng, tiêu viêm, tiêu sưng.
9. Chủ trị
Viêm họng cấp và mạn, viêm mũi dị ứng; viêm phế quản mạn tính, ho gà; Bệnh giun đũa, bệnh lỵ amíp, bệnh sốt rét; Chấn thương, tạng khớp; Ðau mắt đỏ sưng, đau màng mộng mắt, viêm mắt có mủ; Ðau dạ dày, ỉa chảy, nôn mửa. Dùng ngoài trị rắn cắn, viêm mủ da, viêm da thần kinh, chai chân và đắp bó gãy xương.
10. Liều dùng: Từ 8 – 12g/ngày, dạng thuốc sắc hoặc dùng giã nát đắp ngoài. Có thể kế hợp với các vị thuốc khác.
11. Một số bài thuốc có cây cóc mẳn
– Chữa cảm sốt, ho khan: Cóc mẳn, lá xương sông, râu ngô mỗi thứ 40g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
– Ho gió do bị cảm: Cóc mẳn tươi 30g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
– Chữa ho gà: Cóc mẳn tươi 6g, hấp với đường phèn, uống ngày 3 lần.
Hoặc dùng: Cóc mẳn khô 9g, cát cánh, cam thảo, bách bộ – mỗi vị 6g; sắc lấy nước, chia uống trong ngày
– Chữa viêm amiđan: Cóc mẳn tươi 30g, gạo nếp 30g. Giã cóc mẳn lấy nước cốt ngâm gạo nếp, sau đó nghiền gạo nếp thành bột nước; ngậm và nuốt từ từ.
– Chữa viêm mũi dị ứng, ngạt mũi: Cóc mẳn tươi một nắm (khoảng 15-20g) giã nát, thấm nước cốt vào bông, đưa vào sát lỗ mũi, hít vào, mỗi ngày 2-3 lần.
– Chữa suyễn thở khò khè: Cóc mẳn tươi 20g nghiền lấy nước cốt hòa với rượu uống từ từ ít một.
– Chữa bệnh trĩ, thoát giang: Cóc mẳn 40g, sắc uống ngày một thang. Ngoài dùng cóc mẳn tươi, rau sam, hai thứ lượng bằng nhau, giã nát, đắp vào hậu môn.
-Chữa nhọt độc: Cóc mẳn tươi 20g, xuyên sơn giáp 2g (thiêu tồn tính), đương quy vĩ 9g; rượu 150ml, giã nát đắp lên nhọt.
Lương y LÊ VĂN ĐỎ
