CÂY BỒ CÔNG ANH

Cây thuốc anm

Cây Bồ Công Anh Lùn

Tên khác: Bồ công anh Trung quốc, Sư nha.

Tên khoa học: Taraxcum officinale F. H. Wigg.

Phân bố, sinh học và sinh thái:

Loài này phân bố tập trung ở một số nước quanh Địa Trung Hải. Ở Ấn Độ, ở Malaysia, Philippin…, thường chỉ thấy ở vùng núi cao, có khi lên đến 4500 m. Cây được trồng ở Đức, Pháp, Mỹ, Ấn Độ… để làm rau ăn và để làm thuốc.

Cây ưa sáng, khí hậu ẩm mát. Ở nước ta, những vùng có Bồ công anh thấp mọc tương đối tập trung thường có nhiệt độ trung bình dưới 200C, lượng mưa từ 1500 đến 2800 mm trong 1 năm. Cây mọc rải rác hoặc tập trung thành từng đám ở vườn, các bãi trống ven đường đi, trên nương rẫy hoặc chân đá vôi. Cây mọc từ hạt xuất hiện rải rác từ cuối mùa xuân đến cuối mùa hè. Mùa hoa quả cũng rải rác trong suốt mùa hè và đầu mùa thu. Sau khi ra hoa quả, cây tàn lụi. Hạt có túm lông nhờ gió phát tán đi khắp nơi. Vòng đời cây thường kéo dài 3-5 tháng.

Bộ phận dùng: Toàn cây – Herba Taraxaci. Lá thu hái trước khi cây có hoa. Rễ thu vào tháng 6-7.

Thành phần hóa học:

Toàn cây chứa 0,98% falvonoid toàn phần: lactopicrin, taraxacin, taraxacerin, taraxasterol, cosmossin, homotaraxasterol, luteolin- 7–glucosid, β-sitsterol, stigmasrerol.

Lá và hoa có: 88,8% nước, 0,6% protein, 0,44% sợi, 1,6% phần chiết xuất bằng ether, 2,3% tro, 3,7% cacbonhydrat, 59,1mg/100g photpho, 73 mg/100g vitamin C.

Rễ chứa taraxerol. Ψ-taraxasterol, amyrin, stigmasterol.

Ngoài ra còn chứa nhựa, cao su, glucid, các đường (glucose, fructose, cymarose), acid acetic, vitamin B2. Lá chứa luteolin, violaxanthin, plastoquinon. Hoa chứa arnidol, fla voxanthin, 5-α-stigmast-7-en 3-β-pl, vitamin C, D. Phấn hoa có β-sistosterol, acid folic, vitamin E. Cánh hoa có β-sitosterol, coumesterol, carotene và đa đường.

Tác dụng dược lý – Công dụng:

– Tác dụng kháng khuẩn in vitro trên các vi khuẩn Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus, Salmonellatyphi, Escherichia coli với nồng độ đến 25 µg/ml.

– Tác dụng chống nấm in vitro trên Candida albican, Cryptococcus neoformans, trichophyton mentagrophytes, Microsporum canis, Aspergillus aiger với nồng độ đến 25µg/ml.

-Tác dụng chống amib trên Entamoeba histolytica chủng STH đến nồng độ 125µg/ml.

– Tác dụng chống sán Hymenolepis nana ở chuột cống trắng với liều 250mg/kg.

– Tác dụng chống virut bệnh Ranikhet và virut bệnh đậu bò với nồng độ 0,5mg/ml.

– Tác dụng trên nhịp thở và biên độ hô hấp, tác dụng trên huyết áp của chó bình thường với liều 50mg/kh.

– Tác dụng trên hồi tràng chuột lang cô lập, trên tim chuột lang cô lập và trên tử cung chuột cống trắng cô lập.

– Tác dụng chống ung thư trên tế bào ung thư biểu mô mũi-thanh quản người in vitro; trên tế bào ung thư bạch cầu dòng lympho, tế bào sarcom 180 và tế bào gây u gan ở chuột nhắt trắng.

* Công dụng:

– Toàn cây Bồ công anh thấp chữa sưng vú, viêm tuyến vú, ít sữa, tiểu tiện khó, nhiễm khuẩn tiết niệu, mụn nhọt, sưng tấy, lở ngứa ngoài da. Ở Trung Quốc còn dùng chữa đau mắt, tiêu hoá kém, rắn cắn.

 II- Nghiên cứu khoa học:

Các nhà khoa học tại Đại học Windsor đã tiến hành một nghiên cứu ban đầu tại Khoa Hóa học và Sinh hóa. Và kết quả từ những nỗ lực của họ đã đem tới hy vọng cho tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Họ phát hiện ra rằng rễ bồ công anh phá hủy các tế bào ung thư mà không làm hại các tế bào khỏe mạnh, và kết quả đã được công bố trên trang web ‘Natural News’

Cây bồ công anh trung quốc được trồng lại Việt Nam

– Tên khoa học là Taraxacum officinale F. H. Wigg.

– Mô tả: Cây bồ công anh Trung Quốc còn gọi là loại bồ công anh lùn. Cây mọc hoang rất nhiều ở nước ta và được sử dụng để chữa bệnh và tốt cho sức khỏe. Cây có thân rất ngắn, từ 40 đến 60cm. Lá bồ công anh mọc trực tiếp từ rễ lên, mọc thành chụm, lá màu xanh lục ở mặt trên đậm hơn mặt dưới. Mép lá có răng cưa to nhỏ khác nhau. Rễ cây bồ công anh hình trụ, hoa mọc ở trên cùng, có màu vàng. Quả màu nâu đen, hình bầu dục thuôn hẹp.

– Bộ phận dùng: Tất cả các bộ phận của cây bồ công anh này đều dùng làm thuốc chữa bệnh như rễ, lá, thân và hoa.

– Tính vị: Theo đông y, cây bồ công anh có vị đắng, tính mát, đi vào kinh tâm, can, thận.

– Được sử dụng: để thanh nhiệt, giải độc, hóa thấp, tiêu viêm.

– Công dụng điều trị chứng: Tắc sữa, sưng vú. Chất sodium, canxi, magie và đặc biệt là sắt có tác dụng chữa tắc tia sữa, ngoài ra còn giúp thúc đẩy sản xuất sữa, thông đường sữa về.

– Nghiên cứu khoa học: Theo các nghiên cứu, trà bồ công anh làm cho tế bào ung thư phân hủy trong vòng 48 giờ, và nó không ảnh hưởng đến các tế bào khỏe mạnh. Các nhà khoa học kết luận rằng tiêu thụ thường xuyên của rễ bồ công anh phá hủy hầu hết các tế bào ung thư ở bệnh nhân.

Bài viết chỉ tham khảo

 

 

 

 

.
.
.
.